Chăm sóc địa lan thời kỳ ra hoa như thế nào?

chăm sóc địa lan

Cách chăm sóc địa lan thời kỳ ra hoa

Muốn điều tiết được thời kỳ ra hoa của địa lan cần phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra hoa của nó, từ đó có cách chăm sóc địa lan một cách phù hợp.

Đặc điểm thời kỳ ra hoa của địa lan

Các nghiên cứu chứng minh rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc ra hoa của địa lan và tác dụng của chúng hết sức phức tạp. Ngoài các yếu tố khí tượng còn phải biết chăm sóc địa lan như liên quan đến nước, phân bón và trạng thái sinh trưởng của địa lan.

Sự hình thành mầm hoa của địa lan có liên quan mật thiết đến trạng thái dinh dưỡng của cây. Cây khỏe mạnh là tiền đề cho địa lan mang hoa và hoa nở được bình thường vì thời gian mang hoa của địa lan khá dài, vào khoảng 8 tháng cho nên nó đòi hỏi phải có nhiều dinh dưỡng hơn các loài hoa lan khác.

Cây khỏe mạnh thân giá to dự trữ được nhiều dinh dưỡng, cành hoa dài và nhiều hoa, chất lượng tốt. Chăm sóc địa lan lúc này chủ yếu là bón phân cho địa lan hợp lý, tỉa mầm, khống chế sinh trưởng dinh dưỡng tăng sinh trưởng sinh thực.

Đối với địa lan trưởng thành tháng 1 – 6 là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, lúc này bón đạm là chính làm cho cây sinh trưởng khỏe, từ tháng 6-10 địa lan bắt đầu chuyển sang sinh trưởng thực cần bón tăng lân và kali, giảm đạm nhằm thúc đẩy phân hóa mầm hoa.

Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng ở mùa xuân, hè cần tiến hành tỉa mầm, mỗi một giả hành chỉ nên để lại 1-2 mầm nách phát dục bình thường sinh trưởng khoẻ mạnh, làm như vậy sẽ giảm bớt lượng dinh dưỡng bị tiêu hao ở địa lan, thúc đẩy sinh trưởng sinh thực.

Thời gian phân hóa, mầm hoa cần phải khống chế nước đảm bảo cho giá thể khô, giảm lượng nước trong tế bào, tăng cường độ dịch tế bào, khống chế sinh trưởng dinh dưỡng, làm như vậy cũng sẽ thúc đẩy được phân hóa mầm hoa và chùm hoa vươn dài, giúp cho địa lan sớm ra hoa.

Mối quan hệ giữa độ lớn của giả hành với độ dài cành hoa và số lượng hoa

  • Đường kính giả hành = 4,4 cm – Chiều dài cành hoa = 23,3 cm – Số lượng hoa = 10
  • Đường kính giả hành = 3,8 cm – Chiều dài cành hoa = 17,4 cm – Số lượng hoa = 10
  • Đường kính giả hành = 3,6 cm – Chiều dài cành hoa = 17,9 cm – Số lượng hoa = 8
  • Đường kính giả hành = 3,4 cm – Chiều dài cành hoa = 14,6 cm – Số lượng hoa = 6

Cũng có thí nghiệm chứng minh rằng, lượng ánh sáng thích hợp cho địa lan cũng có khả năng thúc đẩy giả hành phình to. Nhiệt độ không khí cũng có liên quan mật thiết đến thời gian ra hoa sớm muộn của địa lan.

Trong điều kiện bình thường, tổng tích ôn từ khi xuất hiện nụ đến ra hoa khá ổn định, vào khoảng 1650 – 1820°c.

Nhiệt độ bình quân/ngày cao hơn 15°C thì thời gian từ xuất hiện nụ đến nở hoa là 110 – 120 ngày. Khi nhiệt độ không khí giảm xuống 14-15°c thì thời gian xuất hiện nụ đến nở sẽ kéo dài vào khoảng 130 ngày.

Người trồng địa lan có thể căn cứ vào số liệu khí tượng để dự tính thời gian hoa nở để xác định một cách chắc chắn thời gian đưa ra thị trường đáp ứng với nhu cầu thị trường.

chăm sóc địa lan
Hướng dẫn cách chăm sóc địa lan thời kỳ ra hoa

Mối quan hệ giữa nhiệt độ và thời gian nở hoa

  • Nhiệt độ bình quân/ngày = 15,8°C – Từ xuất hiện nụ đến ra hoa = 110 ngày
  • Nhiệt độ bình quân/ngày = 15,1°C – Từ xuất hiện nụ đến ra hoa = 122 ngày
  • Nhiệt độ bình quân/ngày = 14.2°C – Từ xuất hiện nụ đến ra hoa = 132 ngày

Chăm sóc địa lan lúc ra hoa

Người ta thường nói nghìn ngày trồng hoa một giờ ngắm hoa để nói rằng kỹ thuật thúc cây ra hoa không dễ. Thực tế chứng minh, qua điều tiết, chăm sóc tỷ mỷ không những thúc đẩy cho địa lan ra nhiều hoa, hình dạng đẹp, màu sắc rực rỡ, hương thơm đậm đà mà còn kéo dài được thời gian ra hoa, cành hoa đẹp.

Điều tiết ánh sáng cho địa lan

Từ khi cây địa lan mang nụ đến nở hoa phải mất vài tháng cho nên phải thường xuyên di chuyển chậu hoa sao cho cây lan thường xuyên nhận được ánh sáng, tránh tình trạng hoa lá mọc lệch làm ảnh hưởng đến giá trị trang trí của cây hoa. Khi hoa nở tùy theo tình hình cụ thể mà đưa cây hoa vào chỗ râm mát nhưng vẫn nhận được ánh sáng tán xạ, tránh ánh sáng mạnh, trực tiếp làm tổn thương hoa làm cho hoa bị héo mất màu, chóng tàn.

Điều chỉnh độ ẩm cho địa lan

Thời kỳ ra hoa của địa lan rất mẫn cảm với độ ẩm của giá thể. Giá thể quá khô phần mềm của rễ bị héo, hoa khó phát triển, hoa nở cũng không bình thường. Nhưng nếu như tưới nước quá nhiều hoặc đọng nước mưa, rễ thiếu oxy sẽ bị thôi, bệnh xâm nhập làm cho cành hoa ngừng phát triển, nụ bị rụng. Bởi vậy việc cấp nước cho địa lan lúc này phải căn cứ vào tình hình cụ thể của giá thể để tưới. Nếu như gặp lúc thời tiết đặc biệt như nhiệt độ cao, khô hanh gió lớn có thể cải thiện môi trường trồng địa lan bằng cách phun mù. Nên giữ cho lá sạch bóng, không được phun nước trực tiếp vào hoa.

Bổ sung dinh dưỡng cho địa lan

Địa lan từ khi mang nụ cho đến kết thúc ra hoa cần tiêu thụ một lượng dinh dưỡng lớn, đặc biệt là các nguyên tố có liên quan đến ra hoa như lân, kali, cần phải bổ sung ở các giai đoạn khác nhau. Thông thường từ lúc phân hóa mầm hoa đến khi bắt đầu ra hoa, mỗi tháng phun KH2PO4 một lần với nồng độ 0,1% – 0,2%.

Bảo vệ cây

– Cần chú ý các việc sau:

+ Chú ý phòng chống rét: phần lớn địa lan đều ra hoa vào đông xuân nên rất dễ bị gió lạnh, sương muối gây hại cho nên phải tiến hành hàng loạt các biện pháp phòng chống rét như gió Tây Bắc hoặc đưa vào phòng ấm mới có thể đảm bảo địa lan ra hoa bình thường.

+ Giữ cho cành hoa đứng thẳng: địa lan có nhiều hoa, chùm hoa to nếu như thấp cành hoa bị nghiêng phải lập tức cắm cọc chống đỡ.

+ Tác động cơ giới: va chạm của người, gia súc, phun thuốc diệt khuẩn đề phòng chống bệnh hại.

+ Tỉa hoa đúng lúc

Địa lan từ khi ra nụ đến hoa nở tiêu hao nhiều dinh dưỡng, do vậy cũng cần một lượng dinh dưỡng lớn. Khi trồng lan nên tránh để cây lan kéo dài thời gian ra hoa, nên tỉa bớt những nụ xấu và họa đã tàn nhằm giảm bớt lượng dinh dưỡng bị tiêu hao. Đồng thời khi hoa đã nở hoàn toàn có thể cắt cả cành hoa cắm vào lọ để nhằm giúp cho cây có thể sớm nẩy mầm, làm như vậy rất có lợi cho sự sinh trưởng và ra hoa của cây năm tới.

Chăm sóc địa lan sau khi cắt hoa

Cần xem xét cụ thể để xác định xem nên giữ nguyên chậu cũ hay là thay chậu khác to hơn hoặc tách cây hoặc dồn vào và lập kế hoạch chăm sóc địa lan.

Thông thường nếu như một chậu địa lan chỉ có 2-3 cây, cây sinh trưởng khỏe, giả hành vẫn bình thường, giá thể còn tốt thì không nên đổi chậu, chỉ cần chăm sóc địa lan bằng việc nước phân đầy đủ và phòng trừ sâu bệnh hại kịp thời, bón phân theo định kỳ mỗi tháng tỉa mầm một lằn cho đến trước khi ra hoa, làm như vậy có tác dụng tập trung dinh dưỡng, cây mập năm sau sẽ ra nhiều hoa và hoa đẹp.

Nếu như sau khi hái hoa mà trong chậu có 3-4 cây hoàn toàn khỏe mạnh và choán hết mặt chậu, không còn chỗ nào cho cây mới mọc, hoặc mặc dù bề mặt chậu vẫn còn rộng nhưng phía dưới không còn không gian cho rễ phát triển, cần phải thay bằng chậu to hơn.

Chậu dùng để thay phải rửa sạch khử trùng, dưới lót bằng ngói vỡ, đá dăm cho dễ thoát nước, trên phủ 1 lớp giá thể và chất dinh dưỡng hữu cơ, nên sử dụng phân phân giải chậm sẽ tốt cho sinh trưởng của cây. Sau đó chuyển cả khóm sang chậu mới đã chuẩn bị, điều chỉnh sao cho mầm non có không gian phát triển, đưa giá thể vào xung quanh, dùng que chọc xuống lấp đầy 1/3 thân giả, cách mép chậu chừng 2-3cm.

Nếu như sau thu hoa trong chậu có trên 4 cây khỏe mạnh hoặc thân giả không lá đầy chậu, không còn chỗ cho mầm dưới phát triển, hoặc do chăm sóc địa lan không tốt, cây không có khả năng nảy mầm, nhiều cây nhưng yếu, giá thể mục nát biến chất, cần phải tách cây thay chậu ngay hoặc dồn chậu. Thông thường dùng dao sắc cắt đi khoảng 1/3 rễ, cắt bỏ lá già, vẩy bám trên thân, sau đó căn cứ vào tình hình cụ thể để quyết định tách cây to nhỏ.

Dù là khóm to hay nhỏ, mỗi khóm nên có cây mẹ đã có hoa và những cây sinh trưởng khoẻ mạnh chưa ra hoa đang nảy mầm, đồng thời tỉa hết những cây yếu và mầm yếu, mỗi cây chi cần giữ lại 1-2 mầm khoẻ là có thể ghép chậu đảm bảo năm sau có được 2 cây ra hoa. Dùng thuốc tím 0,5% để ngâm rễ chừng 5-10 phút, sau đó bỏ ra đặt ở chỗ râm mát cho khô rồi đem trồng vào chậu, mỗi chậu giữ lại 1/3 thân cũ, trồng bổ sung cây mới, sau khi trồng tưới nước xối mạnh cho tạp chất trong chậu theo nước trôi xuống đáy chậu trôi ra ngoài. Sau khi trồng một tuần tưới nước bằng cách phun vào lá chờ cho rễ mới phát sinh rồi mới tiến hành bón phân tưới nước.

Dù là đổi chậu hay tách cây, để đảm bảo cho địa lan chóng hồi phục sinh trưởng nhanh, ngoài việc định kỳ bón phân còn phải phun định kỳ 10 ngày 1 lần bằng ure 0,1% và super lân 0,2%, đồng thời định kỳ tỉa mầm, giữ lại những mầm khoẻ mạnh.

Trong điều kiện bình thường mỗi năm mọc mầm 2 lần, phần lớn vào mùa xuân và hè nhưng nhiều mầm dinh dưỡng cho nên chỉ giữ lại khoảng 3 mầm là đủ, còn những mầm phát sinh vào mùa thu có cả mầm dinh dưỡng và mầm hoa vì vậy phải chờ đến khi có thể phân biệt được mầm hoa và mầm dinh dưỡng sẽ chọn giữ lại những mầm hoa khoẻ mạnh, bỏ hết các mầm dinh dưỡng và mầm hoa yếu ớt nhằm tập trung dinh dưỡng cần thiết cho ra hoa.

Phòng chống giá rét cho địa lan

Mùa đông, nhiệt độ thấp, gió to khô hanh khiến cho việc chăm sóc địa lan là loại cây ưa khí hậu ấm gặp rất nhiều khó khăn; cho nên việc chăm sóc địa lan qua đông là hết sức quan trọng. Mùa đông giá lạnh khi nhiệt độ xuống thấp dưới 10°c phải đưa cây lan vào trong nhà ấm.

Ban đêm phải đóng cửa sổ, ban ngày thời tiết tốt thì mở hết cửa sổ cho thông khí và đón nhận ánh sáng. Khi lạnh quá có thể bỏ chậu lan vào trong túi nylon, khi lạnh vừa miệng túi được mở ra, nếu quá lạnh phải buộc hoặc khâu miệng túi lại hoặc dùng ni lon đậy lên. Khi đợt lạnh đã qua bỏ địa lan ra đặt trong phòng sưởi ấm bằng bóng đèn 60-100W.

Ở phía Nam mùa đông thời tiết ấm áp hơn, không nhất thiết phải có sự chăm sóc địa lan đặc biệt nhưng phải ngừng bón phân tưới nước khi nhiệt độ xuống thấp.

Phân hữu cơ trồng hoa lan dùng sao cho hiệu quả?

phân hữu cơ trồng hoa lan

Bí quyết dùng phân hữu cơ trồng hoa lan

Pha chế phân hữu cơ trồng hoa lan dễ dàng nhờ nguyên liệu dồi dào, dễ tìm kiếm, nhiều nguồn. Nhưng thành phần của phân vì thế mà không rõ rệt. Các nguyên tố cần thiết trong phân không biết được một cách chắc chắn cho nên không có quy định về nồng độ, tỷ lệ pha chế cụ thể mà chỉ do kinh nghiệm của người trồng hoa lan.

Có nhiều loại phân hữu cơ:

a. Nước tiểu:

Là loại phân không tốn tiền nhưng rất hữu hiệu vì trong nước tiểu có đủ khoáng chất cần thiết và còn chứa vài chất kích thích tố tăng trưởng.

Cách dùng phân hữu cơ trồng hoa lan: hòa loãng nước tiểu với tỷ lệ 1:10 hay loãng hơn, tưới cách nhật cũng được, tốt nhất mỗi tuần tưới hai lần. Phù hợp với tất cả các loài lan.

b. Nước tiểu và bánh dầu:

100g bánh dầu (bã đậu phụng ép khô) ngâm với 800g nước trong. Sau 3-4 ngày, bắt đầu lên men thối (nên phải đậy kín vì rất hôi thối), cho thêm 100g nước tiểu. Tiếp tục cho lên men độ 4-5 ngày nữa, lúc đó phân bắt đầu hoai. Cho thêm 800g nước trong và khuấy đều, để lóng. Khi hết mùi thối, lọc lấy phần nước trong, gọi là nước phân nguyên chất.

Cách dùng phân hữu cơ trồng hoa lan: Mỗi tháng chỉ tưới 1-2 lần với tỷ lệ 1:4 (1 phần nước nguyên chất hòa với 4 phần nước trong).

Thích hợp với Dendrobium, Phalaenopsis, Paphiopedilum, Oncidium, Renanthera … Không công hiệu lắm với Brassolaeliocattleya.

c. Phân động vật:

Gồm tất cả các phân của động vật: trâu, bò, gà, chim, dơi … Phần dinh dưỡng trong phân động vật thường rất thấp nhưng lại có hiệu quả tốt khi dùng cho lan. Chúng tôi xin chia sẻ một số loại phân thường dùng và tỷ lệ dưỡng chất % (theo Đạm – Lân – Kali) để các bạn tham khảo:

  • Gà: 1,63 – 1,54 – 0,85
  • Heo: 0,7 – 1,3 – 1,2
  • Trâu bò: 0,4 – (0,2 đến 2,3) – (0,9 đến 1,3)
  • Ngựa: 0,5 – 0,4 – 0,3

Người ta nhận thấy rằng những cây hoa lan trồng chậu và được bón trực tiếp phân động vật thì tăng trưởng rất tốt vào lúc đầu nhưng về sau rễ lan bị hư thối; có lẽ là do sự phân rã của phân làm cho không khí bị tù hãm và nước bị ứ đọng trong chậu cùng lúc với sự tăng nhanh của vi khuẩn. Điều này giải thích tại sao phân động vật dùng ở mức độ cao một cách liên tục sẽ làm giảm đi sự tăng trưởng và ra hoa. Để tránh tình trạng nay thì chúng ta phải:

  • Tạo sự thông thoáng cho đáy chậu
  • Không dùng phân động vật trực tiếp mà phải ngâm cho rã rục, lấy nước để dùng
  • Nên tưới phân hữu cơ vào buổi sáng để tia nắng ban mai và sự khô nhanh vào buổi trưa giúp hạn chế mầm bịnh.
  • Kết hợp tưới phân và tưới thuốc cùng lúc hoặc tưới thuốc phòng bịnh cho cây hoa lan ngay ngày hôm sau của lịch tưới phân.

Khi dùng thì phải pha loãng tùy theo độ đậm đặc của phân lúc ngâm với nước.

Thích hợp nhất với Dendrobium, Vanda, Arachnis, Aranda, Mokara … Chúng tôi đã dùng phân bò cùng tăng cường ánh sáng đã đạt năng suất 60-80% đối với Blc Alma kee “Thipmalee”. Cũng có báo cáo cho thấy rằng sử dụng phân gà đã đem lại sản lượng phát hoa cao hơn và cả sự tăng trưởng nhanh hơn ở Aranda, Dendrobium.

d. Xác bã động vật

Xác tôm, cá (nước ngọt), gia súc, lông gà, vịt, lòng mề … cho vào hũ hay chung vại, đậy kín, ngâm cho rã rục đến khi không còn mùi thối. Lọc lấy nước phân này.

Khi dùng thì pha loãng tùy độ đậm đặc lúc ngâm chúng.

Theo các nhà trồng lan Đài Loan thì nước ngâm lông gà vịt, bột cá là tuyệt hảo đối với Hồ Điệp và không bị khuyết điểm lên rong xanh.

e. Than xương

Xương bò, heo đốt đi rồi nghiền vụn ra trộn với các chất trồng khác. Thích hợp cho vài phong lan và nhiều địa lan. Các địa lan rất thích hợp với phân hữu cơ vì chúng có nấm cộng sinh ở rễ và các vi khuẩn có sẵn trong đất giúp chúng phân hủy các chất hữu cơ trong phân thành những nguyên tố làm cho rễ lan dễ hấp thu.

Phân cho địa lan lý tưởng nhất là: phân bò hoặc mùn thực vật + than xương súc vật hoặc bột sò ốc, xương cá + bánh dầu phụng + nước tiểu. Trộn tất cả đều tay với phân lượng bằng nhau, rồi ít tro rơm hay tro cỏ và ít cát. Ủ độ 3-4 ngày cho hoai rồi đem phôi ở nền gạch cho khô, nghiền vụn ra. Cất dùng dần. Có thể dùng làm chất trồng cho địa lan hữu hiệu hơn một năm mà không cần bón thêm phân.

Hiện nay có nhiều loại phân hữu cơ trồng hoa lan đã được trích chiết dưới dạng dung dịch đậm đặc, khi dùng thì pha loãng với nước theo chỉ dẫn, rất tiện lợi.

Nguyễn Thiện Tịch (Tổng biên tập tạp chí Hoa Cảnh)

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ở cây lan (phần 2)

hoa phong lan

Tiếp theo bài viết trước về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ở cây lan mà chúng ta đã đề cập là ánh sáng, bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một yếu tố khác không kém phần quan trọng, đó là nhiệt độ.

B. Nhiệt độ trồng lan

Nhiệt độ tác động ở cây lan qua con đường quang tổng hợp. Ta biết rằng cường độ quang hợp gia tăng theo nhiệt độ: thường khi nhiệt độ tăng 10 độ C thì tốc độ quang hợp tăng lên gấp đôi. Chính vì vậy mà nhiệt độ cao làm gia tăng sự phát triển dinh dưỡng ở cây lan. Vì lý do này mà vào mùa nắng ta tăng lượng phân bón cho lan để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng gia tăng ấy.

Nhiệt độ liên quan đến ánh sáng vì cây cỏ thu tóm nhiệt lượng từ ánh sáng sáng mặt trởi và kế đến là toả ra được thì diệp lục tố sẽ bị thiêu huỷ, lá sẽ ngả vàng và phản ứng quang hợp bị đình chỉ. Nhiệt độ ở lá dưới ánh nắng  vào bất kỳ thời gian nào cũng luôn luôn cao hơn nhiệt độ của không khí quanh nó. Sự tổn thương do nhiệt độ tuỳ vào thời gian phơi bày ra nắng. Không khí luân chuyển sẽ giúp tránh được điều đó. Phần lớn cây lan chịu được nhiệt độ thấp của ban đêm, ngắn hạn thôi chứ không dai dẳng. Ngược lại nhiệt độ cao dai dẳng trong đêm không tốt cho cây vì tiến trình hô hấp gia tăng. Chúng ta mong muốn tăng tỷ lệ quang hợp để tạo dự trữ cho sự tăng trưởng và trổ hoa của cây lan, nhưng sự hô hấp cao sẽ dùng hết chất đường và nhựa cũng nhanh bằng lúc phản ứng quang hợp tạo ra chúng. Quang hợp thì diễn tiến suốt ngày còn hô hấp thì diễn ra suốt ngày và đêm. Bằng cách làm chậm đi sự hô hấp về đêm, thì các chất tổng hợp được ban ngày sẽ không bị sử dụng hết! Có thể làm giảm sự hô hấp ấy bằng cách hạ nhiệt độ ban đêm xuống. Như vậy sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm (biên độ nhiệt) có ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lan.

sự phát triển ở cây lan
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc cây lan

Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến sự ra hoa của một số lan: ở lan Bạch câu Dendrobium crumenatum đòi hỏi giảm nhiệt độ đột ngột khoảng 5-6 đô C trong vài giây đồng hồ thì khoảng 9 ngày sau chúng sẽ nở hoa đồng loạt. Ở 18,5 độ C Paphiopedilum insigne và Dendrobium nobile chỉ tiếp tục tăng trưởng mà không ra hoa nhưng chúng sẽ ra hoa khi nhiệt độ hạ xuống 13 độ C hay thấp hơn. Ở Cymbidium cũng vậy, nhưng ở đây có sự tham gia của ánh sáng. Phalaenopsis schileriana chỉ ra hoa khi nhiệt độ ban đêm giảm xuống dưới 21 độ C.

Tuy nhiên, nếu nhiệt độ quá thấp thì sẽ làm cho nước trong tế bào của cây kết tinh thành nước đá, làm gia tăng thể tích, phá vỡ các cấu trúc tế bào. Ngược lại, nhiệt độ tăng quá cao thì sự quang hợp ngừng lại vì nguyên sinh chất trong tế bào đặc quánh lại do mất nước, cây ngừng hô hấp và chết đi.

Và như vậy, chúng chỉ phát triển tốt nhất ở trong khoảng nhiệt độ cực đại là 35 độ C, nhiệt độ tối hảo là 27 độ C.

Rõ ràng nhu cầu nhiệt độ ở cây lan có khác nhau nên ta gặp chúng tập trung thành những nhóm lan khác nhau ở những vùng nhiệt độ khác nhau: lan vùng núi cao, lan vùng đồng bằng, lan vùng nhiệt đới, lan vùng ôn đới ….

Căn cứ vào nhu cầu nhiệt độ, ta chia lan ra thành 3 nhóm:

  • Nhóm ưa nóng: chịu nhiệt độ ban ngày không dưới 21 độ C, ban đêm không dưới 18,5 độ C. Chúng thường ở vùng nhiệt đới.
  • Nhóm ưa lạnh: chịu nhiệt độ ban ngày không quá 14 độ C, ban đêm không quá 13 độ C. Chúng thường ở vùng hàn đới, ôn đới và các chỏm núi cao vùng nhiệt đới.
  • Nhóm chịu nhiệt độ trung bình: thích hợp với nhiệt độ ban ngày không dưới 14,5 độ C, ban đêm không dưới 13,5 độ C.

Do đó, ở thành phố Hồ Chí Minh không dễ gì trồng có hoa các giống Lycaste, Cymbidium … của vùng lạnh. Ngược lại, ở Đà Lạt lại khó phù phợp với Arachnis, Dendrobium … của vùng nóng. Trong khi đó, Cattleya thích hợp cho cả thành phố Hồ Chí Minh lẫn Đà Lạt, vì chúng là giống lan xuất xứ của vùng cận nhiệt đới nên có thể trồng ở vùng nhiệt đới lẫn ôn đới, nơi nóng cũng như xứ lạnh.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ở cây lan (phần 1)

hoa lan

A. Ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển ở cây lan

Ánh sáng là tối cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lan. Ánh sáng đem năng lượng cần thiết cho phản ứng quang tổng hợp:

nCO2 + 2n(H2O) —-> (CH2O)n + nO2 +nH2O dưới điều kiện ánh sáng

nhờ vậy mà cây lan tạo ra được chất dinh dưỡng. Khi ánh sáng ít (vì cường độ sáng yếu hoặc thời gian chiếu ánh sáng ít (vì cường độ sáng yếu hoặc thời gian chiếu sáng không lâu) thì cây không tạo ra đủ đưỡng liệu để sống. Nếu mỗi ngày chỉ có 8 giờ sáng thì nhiều câu không thể sống được.

Vì cường độ quang hợp tỷ lệ thuận với cường độ sáng cho nên những ngày nắng, cây cần nhiều nước và muối khoáng để tạo ra dưỡng chất hơn là lúc trời âm u, đó là lý do khiến ta phải tăng lượng nước tưới và phân bón vào mùa nắng, giảm đi vào mùa mưa hoặc không nên bón phân vào những ngày trời âm u, tối.

kỹ thuật trồng lan
Ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển và ra hoa ở lan

Ánh sáng gia tăng dần từ 7 giờ, cực đại vào lúc trưa rồi giảm dần vào buổi chiều. Sau 17 giờ và trước 7 giờ cường độ sáng không đáng kể. Vì cường độ sáng cực đại vào lúc trưa nên nếu cây lan tiếp xúc với nắng lúc ấy thì sẽ dễ gây ra hiện tượng cháy lá nên phải làm giàn che.

Ánh sáng còn chi phối việc ra hoa ở một số loài. Hầu hết các giống Cattleya, Dendrobium … nếu thiếu sáng thì cây không ra hoa, vì vậy các nghệ nhân thường “phơi nắng” để ép chúng ra hoa.

Ánh sáng cần thiết cho sự quang hợp, nhưng nhu cầu ấy lại khác nhau ở mỗi cây lan. Đối với những cây chịu rợp (thường mọc dưới tán rừng dày), khi cường độ sáng yếu thì cường độ quan hợp đã gia tăng cực đại, nếu gia tăng cường độ sáng hơn nữa thì nó lại ngừng quang hợp. Ngược lại, ở cây chịu sáng như Renanthera, Vanda lá hình trụ …, cường độ quang hợp tăng theo cường độ sáng nên đối với những cây này khi ánh sáng yếu thì cường độ quang hợp giảm đo đó chúng sẽ thiếu thức ăn, cây sẽ suy yếu hoặc không có hoa.

Tuỳ theo nhu cầu ánh sáng, ta chia lan ra làm 3 nhóm:

  • Nhóm ưa sáng: đòi hỏi ánh sáng nhiều, khoảng 100% nắng trực tiếp. Gồm các loài của Vanda lá hình trụ, Arachnis, Renanthera …
  • Nhóm ưa nóng: đòi hỏi ít ánh sáng, khoảng 30% ánh nắng như các giống Phalaenopsis, Paphiopedilum …
  • Nhóm trung gian: có nhu cầu ánh sáng khoảng 50% đến 80% ánh sáng như Cattleya, Dendrobium …

Tuỳ theo nhu cầu ấy mà ta quyết định cách thức làm giàn che cho phù hợp. Tuy nhiên, nhiều nhân tố như nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng … tác động vào khả năng chấp nhận ánh sáng của cây lan. Vì vậy, ta thấy có nhiều chậu lan Cattleua hay Dendrobium, thậm chí cả Ngọc Điểm (Rhynchostylis gigantea) theo lý thuyết chỉ thích hợp với độ nắng 80% trở xuống lại có thể sống tốt và ra hoa ở ngoài nắng 100%.  Vấn đề độ ẩm, độ thông thoáng và cả nhiệt độ ở nơi trồng chúng đã giúp chúng thích nghi với lượng nắng cao hơn nhu cầu . Trường hợp các cây lan có thể phát triển tốt và ra hoa dưới cường độ sáng cao hơn mức bình thường nếu sức nóng thừa ở cường độ ấy được giải toả một cách hiệu nghiệm; vì vậy khi nắng gắt, nhiệt độ cao chúng ta làm hạ nhiệt độ bằng cách tăng độ ẩm (tưới vườn) tăng sự thông thoáng (quạt gió). Ngược lại trong mùa mưa, mây phủ nhiều ngày rồi buổi sáng hôm sau trời trong, nắng gắt, các cây bị nóng nhanh, hơi nước thoát ra nhanh khiến rễ cây không cung cấp kịp nước, cây trở nên xác xơ. Trong trường hợp này nụ hoa là phần mong manh nhất của cây lan, sẽ bị tổn thương trước hết: quặt quẹo, vàng và rụng nụ – hoặc chóng tàn ….

Có mối liên hệ giữa ánh sáng cao và nhiệt độ cao đã làm cản trở việc phát triển các cây lan vùng nhiệt đới. Việc cung cấp đủ ánh sáng cho cây thích bóng râm là tương đối dễ, nhưng cung cấp đủ ánh sáng cho cây mọc bình thường ngoài nắng là điều khó khăn vì khi cường độ sáng tăng thì sức nóng tăng, khó lòng làm thoát nhiệt độ dư thừa đó – vì vậy mà ở vùng lạnh như Đà Lạt, Sapa … Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis), Lan Hài (Paphiopedilum) dễ phát triển hơn là Vanda, Mokara … Nếu cây lan nhận được ánh sáng quá thấp, dưới nhu cầu thì lại nảy sinh những vấn đề khác: Những hành giả mới thường yếu và cao lỏng khỏng, lá xanh đậm khác thường, sự ra hoa giảm hoặc không có hoa.

Dù ở ngay tại một vườn lan, cây lan vẫn nhận được ánh sáng có mức độ khác nhau do vị trí của nó: ở bìa vườn hay giữa vườn, bóng lá của cây này so với cây kia. Vị trí của lá là yếu tố không thể bỏ sót trong việc ánh sáng có vào được tối đa hay không. Vì vậy mật độ cây có ảnh hưởng đến tình trạng cây.

Thời gian có ánh sáng, gọi là độ dài của ngày, kiểm soát sự phát triển chồi hoa ở một số giống loài lan, một số cây tạo nụ hoa lúc ngày ngắn, số khác tạo nụ hoa lúc ngày dài. Biết được điều này ta có thể điều khiển cho chúng trổ hoa theo yêu cầu.

Đặc tính sinh học của cây hoa lan

hoa lan

Đặc tính sinh học của cây hoa lan ra sao?

Rễ lan:

Họ lan bao gồm các cây thân thảo, sống lâu năm, sống ở đất, vách đá hoặc sống phụ, sống hoại…

Khi sống ở đất, chúng thường có củ giả, rễ mập và xum xuê hoặc có chân rễ bò dài hay ngắn. Tuy nhiên, nét độc đáo của họ lan là lối sống phụ ( bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các thân cây gỗ khác. Hoa lan phát triển thân rễ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai ( tuỳ thuộc vào từng loài) đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày. Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cơ thể. Nhiều loài lan rất nhỏ bé, hình dạng xấu xí, khó khăn lắm mới nhận được chúng trong kẽ nứt của vỏ cây gỗ, trên các cành, nhánh cao tít. Hệ rễ cũng nhỏ, đan thành búi, ngược lại ở các loài phong lan có kích thước lớn hay trung bình, hệ rễ khí sinh phát triển rất phong phú, mọc rất dài, mập, khoẻ vừa giữ cho cơ thể khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột chống đỡ cho thân vươn cao.

Để làm nhiệm vụ hấp thu dinh dưỡng, chúng được bao bọc bởi một lớp mô hút dày, ẩm, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí. Với lớp mô xốp đó, rễ không những có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc trên vỏ cây mà còn lấy được nước lơ lửng trong không khí (sương sớm hay hơi nước).

đặc tính sinh học của cây hoa lan
Hiểu đặc tính sinh học của cây hoa lan để nuôi trồng tốt hơn

Nhiều loài có hệ rễ đan, bện chằng chịt, là nơi thu gom mùn để làm  nguồn dự trữ chất dinh dưỡng cho cây. Ngược lại, có loài mọc bò dài, hệ rễ có khi buông thõng xuống theo các đoạn thân, cứng hoặc mảnh mai, treo lơ lửng trong không khí  kéo dài xuống tận đất và hoạt động phá rễ của cây khác . Ở một số loài lan có thân, lá kém phát triển (thậm chí tiêu giảm hoàn toàn) hệ rễ phá triển dày đặc và kiêm nhiệm luôn cả vai trò quang hợp. Rễ có dạng dẹt, bò rất dài, màu xanh như lá.

Đặc biệt các loài phong lan sống hoại, bộ rễ có hình dạng, cấu trúc khá độc đáo. Nó có dạng búi nhỏ với những vòi hút ngắn, dày đặc để lấy được dinh dưỡng từ những đám xác thực vật thông qua hoạt động của nấm. Tuy nhiên, có một ít loài tuy sống hoại, nhưng cây có thể dài đến vài chục mét, nó có khả năng leo, bò rất cao.

Thân cây họ phong lan:

Thân rất ngắn hay kéo dài, đôi khi phân nhánh, mang lá hay không mang lá. Theo M.E. Pfizer (1882) ( dẫn theo Trần Hợp, 1990), phong lan có 2 loại thân, mà đa số thuộc loại sinh trưởng hợp trục ( nhóm không thân). Thân này gồm hệ thống của nhiều nhánh lâu năm, với bộ phận nằm ngang, bò dải trên giá thể hay ẩn sâu trong lòng đất, gọi là thân rễ. Ngược lại, rất ít khi gặp các loài phong lan sinh trưởng đơn trục ( nhóm có thân) nghĩa là sự sinh trưởng của trục chính không giới hạn, làm cho thân rất dài, cơ thể khó có khả năng duy trì được tư thế thẳng đứng, nó phải nhờ đến các rễ chống đỡ để vươn cao, nếu không, nó đành phải bò dài hay leo cuốn. Đôi khi thân của một số loài lan rất ngắn, bị che khuất bởi hệ thống lá hay rễ mọc thành bụi dày.

Ở các loài phong lan sống phụ, có nhiều đoạn phình lớn, tạo thành củ giả (gỉa hành). Đó là bộ phận dự trữ nước và chất dinh dưỡng  để nuôi cây trong hoàn cảnh khô hạn khi sống bám trên cao. Củ giả rất đa dạng, hoặc hình cầu, thuôn dài, xếp sát nhau hay rải rác, đều đặn (Bulbophylum) hay hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả ( Dendrobium). Kích thước của củ giả cũng rất biến động, từ dạng củ rất nhỏ chỉ lớn bằng đầu chiếc kim găm (Bulbophylum)đến to bằng chiếc mũ người lớn ( Peristeria elata).  Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp.

Lá lan

Hầu hết các loài phong lan đều là cây tự dưỡng, do đó nó phát triển rất đầy đủ hệ thống lá, lá mềm mại, duyên dáng và hấp dẫn. Lá mọc đơn độc, hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân, trên củ giả. Hình dạng lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước, nạc, dài hình kim, hình trụ dài, tiết diện tròn hay có rãnh, đến loại lá hình phiến mỏng, dài màu xanh bóng, đậm hay nhạt tuỳ theo vị trí sống của cây, đặc biệt rất hiếm loại lá hình tròn thuôn dài thành bẹ ôm lấy thân. Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung (như cái quạt hay chỉ gấp lại theo gân giữa, hình chữ V), những lá dưới sát gốc thường tiêu giảm đi chỉ còn những bẹ không có phiến hay giảm hẳn thành các vẩy.

Về màu sắc, phiến lá thường có màu xanh bóng, nhưng đôi khi hai mặt lá có màu khác nhau thường mặt dưới lá có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lá khảm thêm nhiều màu sắc sặc sỡ. Nhiều loài lan lại có lá màu hồng và nổi lên các đường vẽ trắng theo các gân rất đẹp.

Phong lan, nhất là ở các vùng nhiệt đới thường trút hết lá trong mùa khô hạn. Lúc này cây ra hoa hay sống ẩn, chờ mùa mưa đến sẽ cho chồi mới. Một số loài lan sống trong đất có chu kỳ sống rất đặc biệt, xen mùa lá với mùa hoa. Khi cây ra hoa toàn bộ lá đều chết khô đi và khi hoa tàn, củ giả sẽ cho chồi, lá mới.

hoa lan

Hoa lan

Cấu tạo của hoa lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn. Ta có thể gặp nhiều loài mà mỗi mùa chỉ có một đoá hoa nở  hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ đơm một bông, nhưng  đa số các loài lan đều nở rộ nhiều hoa, tập hợp thành chùm (đôi khi phân nhánh thành chuỳ) phân bố ở đỉnh thân hay nách lá.

Mặc dù muôn hình, muôn vẻ nhưng nếu ta quan sát tổng quát hoa của bất kỳ cây lan nào cũng đều thấy có một tổ chức đồng nhất của mẫu hoa 3 là một kiểu  hoa đặc trưng của lớp một lá mầm, nhưng đã biến đổi rất nhiều để hoa có đối xứng qua một mặt phẳng. Bên ngoài có 6 cánh hoa, trong đó 3 cánh hoa ngoài cùng gọi là 3 cánh đài, thường có cùng màu sắc và cùng kích thước  với nhau, một cánh đài nằm ở phía trên hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lưng, hai cánh đài còn lại nằm ở hai bên gọi là cánh đài cạnh hay cánh đài bên. Ba cánh đài lẽ ra phải nhỏ và có màu xanh như những loài hoa khác, nhưng ở hoa lan chúng lại to  và có màu sắc, cùng kích thước với nhau dược gọi là cánh đài dạng cánh. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 2 cánh hoa, thường giống nhau về hình dạng ,kích thước cũng như màu sắc nên được gọi là 2 cánh bên, cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới của hoa, thường có màu sắc và hình dạng đặc biệt khác hẳn 2 cánh kia được gọi là cánh môi hay cánh lưỡi . Chính cánh môi quyết định phần lớn giá trị thẩm mỹ của cả hoa lan .

Ở giữa hoa có một cái trụ nổi lên, đó là bộ phận sinh dục của hoa, giúp duy trì nòi giống của cây lan. Trụ ấy gồm cả phần sinh dục đực và cái nên được gọi là trục – hợp nhuỵ. Phần đực nằm ở bên trên của trục, thường có cái nắp che chở, bên trong chứa phấn khối màu vàng, số lượng phấn khối biến đổi từ 2,4,6 đến 8 có dạng thuôn hay cong lưỡi liềm, đôi khi thuôn dài, có đuôi. Phấn khối do nhiều hạt phấn dính lại với nhau. Số lượng, hình dạng, kích thước của phấn khối thay đổi tuỳ theo giống và loài lan.

Hoa phong lan có bầu hạ, thuôn dài kéo theo cuống (rất khó phân biệt giữa bầu và cuống hoa). Sự vặn xoắn toàn bộ hoa trong quá trình phát triển là đặc điểm của bầu. Hoa thường bị vặn xoắn 1800 sao cho cánh môi khi hoa bắt đầu nở hướng ra bên ngoài, ở vào phía dưới, làm chỗ đậu thuận lợi cho côn trùng. Rất ít khi gặp hoa vặn 3600 như loài Malaxia, Paludosa hoặc không vặn gì do cuống hoa rủ xuống như loài Stanhopea, khi hoa nở, cánh môi hướng lên trên, nó thích nghi với loài côn trùng ưa lộn đầu xuống khi chui vào hoa.

Bầu hoa lan có 3 ô gọi là 3 tâm bì hoặc bì đính noãn trung trụ (ở các loài lan nguyên thuỷ) hoặc đính noãn bên ở các loài lan tiến hoá hơn. Trong bầu chứa vô số các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn nằm trên 3 đường, dọc theo chiều dài của 3 mép tâm bì. Sau khi thụ phấn, thụ tinh các tiểu noãn sẽ biến đổi và phát triển thành hạt, trong khi đó bầu noãn sẽ to phát triển thành quả.

Quả lan

Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 – 6 đường nứt dọc, có dạng từ quả cải dài ( Vanilla) đến dạng hình trụ ngắn phình ở giữa ( ở đa số các loài khác). Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc. Ở một số loài, quả chín nở theo 1- 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này bị mục nát.

Hạt lan

Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti (do đó trước đây gọi họ phong lan là họ vi tử ). Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí. Phải trải qua 2 – 18 tháng hạt mới chín. Phần lớn hạt thường chết  vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm. Do đó hạt nhiều có thể theo gió bay rất xa, nhưng hạt nảy mầm thành cây lại rất hiếm. Chỉ ở trong những khu rừng già ẩm ướt, vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện cho hạt lan nảy mầm. Khối lượng toàn bộ hạt trong một quả chỉ bằng 1/10 đến 1/1000 miligam. Trong đó không khí chiếm khoảng 76 – 96% thể tích của hạt. Rõ ràng hạt cây lan hầu như không có khối lượng.

Càng đi sâu vào chi tiết thì các loài hoa lan càng khác nhau nhiều, đặc tính sinh học của cây hoa lan muôn màu, muôn vẻ, không thể nào tả hết được, chỉ cần đề cập đến cánh môi cũng rất phong phú. Cánh môi của một số loài rất to, có tua, có gờ… nhưng cánh môi của một số loài lại rất nhỏ, trơn láng hay nhẵn bóng, thường có cựa, có móc, có túi ở đằng sau.

Lịch sử cây hoa lan

cây hoa lan

Lịch sử cây hoa lan: Cây hoa lan (orchidaceae) thuộc họ phong lan (orchidaceae), bộ lan (orchidales), lớp một lá mần (monocotyledoneae).

Họ phong lan phân bố từ 680 vĩ Bắc đến 560vĩ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc như Thuỵ Điển , Aleska, xuống tận cuối cùng ở cực nam của Ostralia. Tuy nhiên tập trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt châu Mỹ và Đông nam á. Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp lên các vùng núi cao. Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000 m so với mặt nước biển, song có một số ít loài sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nước biển (ở Colômbia óc một số loài phong lan sống ở núi quanh năm tuyết phủ).

cây hoa lan

Đến nay loài người đã biết được 750 chi, có khoảng 25.000 loài. Qua kết quả lai tạo và chọn lọc, các nhà chọn giống và trồng lan đã bổ sung thêm 75.000 loài lan mới (Sapror bx-Tea huntum,1953; Camphell 1994). Những cây lan là những cây bụi sống trên mặt đất được gọi là địa lan hoặc bám vào thân cây, cành cây được gọi là phong lan. Họ lan phân bố nhiều nhất trong 2 vùng nhiệt đới, có 250 chi và 6.800 loài. Các loài đặc sản ở châu Mỹ gồm: Cattleya (60 loài), Epidendrum (500 loài), Odontoglosum (200 loài). ở vùng khí hậu ôn hoà số lượng loài giảm đi nhanh chóng và rõ rệt. Bắc bán cầu có khỏang 75 chi và 900 loài. Nam bán cầu có khoảng 40 chi và 500 loài ( F.Gbriger, 1971). Lúc đầu lan chí được khai thác nhằm mục đích làm dược liệu và hương liệu. Người ta cứ tưởng rằng cây lan được biết đến đầu tiên ở châu Âu qua bản viết tay bằng chữ Hy Lạp (Enenquiry into plans) của Theophrastus khoảng 379 đến 285 trước công nguyên) nhưng thực ra cây lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông khoảng  từ 551 – 497 trước công nguyên. Khổng Tử sau khi chu du khắp thiên hạ không được nước náo nhận sử dụng, trên đường từ nước Vệ về nước Lỗ thấy hoa lan tươi tốt mọc chen với cây cỏ ở nơi rừng sâu bèn than rằng: “Ôi hoa lan có mùi thơm vương giả, nay tươi tốt một mình ở chốn sơn lâm, mọc xen lẫn với loài cỏ hoang dại, chẳng khác náo bậc hiền giả không gặp thời, sống chung với bọn bỉ phu”.

Cây lan được biết đến đầu tiên ở Trung Hoa là Kiến lan (vì được tím ra đầu tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa lan. ở phương Đông lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa (vì quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã cứ không ưa phô chương sặc sỡ).

Lan đối với người Trung Hoa hay đối với người Nhật được tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc  về phái yếu, quý phái và thanh lịch. Lan còn tượng trưng cho sự đông đủ con cái (phúc). Khổng tử đã ví lan với đức tính cao quý cho nên năm tháng lan cũng đồng nghĩa với người quân tử, cao cả, hoàn hảo. Hương thơm của lan để chỉ tình bạn. Khổng tử đề cao lan là vua của những loài cây cỏ có hương thơm. Phong trào chơi phong lan và địa lan ở Trung Quốc phát triển rất sớm, từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên đã có các tranh vẽ về phong lan còn lưu lại từ thời Hán Tông. ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong lan đã đến khắp các miền của địa cầu. Lan chính thức ra nhậpvào ngành hoa cây cảnh trên thế giới khoảng  hơn 400 năm nay (Draiti, 1960; Coat, 1969; Garay, 1974).

Ở Việt Nam dấu vết nghiên cứu về lan buổi đầu không rõ ràng lắm, có lẽ người đầu tiên khảo sát về lan là Gioalas Noureiro- nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã mô tả cây lan lần đầu tiên ở Việt Nam trong cuốn “ flora cochinchinensis” gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaijus… mà đã được Ben  Tham và Hooker ghi lại trong cuốn “ Genera plante rum” (1862 –1883). Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công trình được công bố là F. gagnepain và A.gnillaumin mô tả 101 chi gần 70 loài lan cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” do H. lecomte chủ biên, xuất bản từ 1932 – 1934. bên cạnh đó cũng có một số tác giả  khác cung đề cấp đén lan Việt Nam. Một số người Việt Nam cũng bắt đầu nghiên cứu về lan như “Cây cỏ Việt Nam” của GS. Phạm Hoàng Hộ với 289 loài được mô tả và có hình vẽ minh hoạ.

Việt Nam có hơn 900 loài phong lan phân bố rộng rãi trên cả nước. Chúng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho hoa đẹp, có thể sử dụng làm nguồn gen quý cho công tác lai tạo giống hoa lan.

Trải qua nhiều thế kỷ, nguời ta chỉ biết gieo lan nảy mầm từ hạt. bác sỹ, y tá người Anh là Jonh Haris và Weitch đã biết đến vai trò của nấm (Fungus) trong việc nảy mầm hạt lan trong điều kiện tự nhiên.

Ngày nay, người ta nói đến công trình của TS. Knudson (Mỹ) công bố năm 1946 đã mở ra cuộc công nghệ sinh học môi trường lan. Gần đây, để thu được những dòng thuần ổn định, Morel (1965) công bố phương pháp nhân gióng lan bằng mô phân sinh. Nhờ vậy, người ta đã sản xuất được khối lượng lớn, đồng nhất trong một thời gian ngắn của những dòng đã chọn, tiến hành bảo tồn, duy trì, tạo những giống sạch virus từ các dòng được lai tạo, xây dựng các xí nghiệp sản xuất công nghiệp có sản lượng lớn với giá thành hạ (Islex, 1965; Lin Derman, 1967; Molethan, 1971…).

Phong lan đã được xuất khẩu và lưu thông như một ngành thương mại và được phát triển nhanh ra nhiều nước, đã gây, trồng, lai tạo được nhiều giống mới độc đáo… Các quốc gia có sở trường sản xuất hoa lan bằng phương pháp công nghệ tiên tiến từ nuôi cấy mô phân sinh dòng thuần theo ý muốn là Australia, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha… giống gốc nhập nội từ các công ty của Singapo, Malaysia…

ở Thái Lan, nghề trồng phong lan và xuất khẩu hoa lan cắt cành đã chiếm lĩnh thị trường nhiều nước. Giống sử dụng thuộc chi Dendrobium. Giá một cây giao động từ 3- 50 USD. Có khi đến 80 – 100 USD. Loài đặc biệt có khi lên đến hàng chục ngàn đô la Mỹ.